Lưu ý về chế độ nước cho trẻ 1 – 2 tuổi

Bé ở tuổi tập đi (1-2 tuổi) rất năng động nên cần nhiều nước để thay thế lượng chất lỏng đã mất. Mẹ nên cho bé uống nước như nào để tốt cho sức khỏe của bé?

Theo Viện nhi khoa Mỹ, bé ở độ tuổi 1-3 cần khoảng 1,3l nước mỗi ngày. Do trọng lượng cơ thể của bé ít hơn so với người trưởng thành nên bé rất nhanh bị mất nước.

Ngoài ra, do các bé mải chơi, thường quên cơn khát nên càng dễ bị thiếu nước. Nếu bé nhận ra bé khát nước tức là bé đã bị mất nước nhẹ và bé thường kêu khát khi vừa thiếu nước, vừa mệt mỏi hoặc chóng mặt.

Với những bé chưa biết đòi mẹ cho uống nước khi khát, hãy cho bé uống một vài hớp nước mỗi tiếng đồng hồ một lần. Để nước lọc ở những nơi bé dễ dàng với tới, chẳng hạn, bình uống nước dành cho bé để bé có thể uống ngay khi bé thích.

Sốt và khi ốm có thể làm tăng nhu cầu nước ở bé, cho dù đó là những hôm trời mát mẻ. Điều quan trọng là cha mẹ cần cho bé uống nước thường xuyên hàng ngày. Một khi bé uống đủ nước, nước tiểu sẽ có màu sáng hoặc không màu.

Các mẹ nên cho bé uống một chút nước nếu bé tỉnh giấc vào ban đêm.

Lưu ý về chế độ nước cho trẻ 1 - 2 tuổi

Với những bé chưa biết đòi mẹ cho uống nước khi khát, hãy cho bé uống một vài hớp nước mỗi tiếng đồng hồ một lần. Để nước lọc ở những nơi bé dễ dàng với tới, chẳng hạn, bình uống nước dành cho bé để bé có thể uống ngay khi bé thích.

Mẹ có vai trò hướng dẫn để bé có thói quen uống nước để cung cấp đủ nước cho cơ thể. Không phải đợi đến lúc khát mới uống, vì như vậy chắc chắn do nghịch, mải chơi hoặc đôi chút biếng nhác, bé sẽ quên đi việc phải uống nước.

Nước hoa quả đóng chai thường nhiều đường, trong khi hàm lượng dinh dưỡng thấp, vì thế, chỉ nên cho bé 1-2 tuổi uống tối đa 120ml nước quả mỗi ngày. Nước tăng lực, nước uống đóng chai có ga cần tránh hoàn toàn ở độ tuổi này. Mỗi 240ml nước có ga chỉ chứa 100 kalo nhưng lượng caffein trong đó có thể gây nghiện, khiến bé đi tiểu nhiều và chậm tăng cân.

Khi trẻ ra nhiều mồ hôi, không nên cho trẻ uống nhiều nước cùng một lúc, dễ gây trúng độc nước. Vì khi cơ thể ra nhiều mồ hôi sẽ mất đi một lượng muối cần thiết, sau khi uống quá nhiều nước, nước hấp thụ qua dạ dày đường ruột, đồng thời cũng thải lượng muối nhiều hơn dẫn đến lượng hấp thụ huyết dịch giảm thấp, nước bị hấp thụ nhanh vào trong tổ hợp tế bào, gây ra phù tế bào, xuất hiện các triệu chứng đau đầu, hoa mắt chóng mặt. Nếu trẻ khát, bạn cũng chỉ cho trẻ uống từ từ, từ 100 – 150 ml mỗi lần uống, và nếu tiếp tục có nhu cầu , thì hãy đợi từ 5 – 10 phút sau mới uống tiếp.

Súp cà rốt ngon bổ cho bé yêu

– Bạn có thể cho các bé nhà mình ăn món súp này 1 – 2 lần một tuần để thay đổi khẩu vị và bổ sung thêm lượng vitamin A cần thiết.

Súp cà rốt ngon bổ cho bé yêu

Nguyên liệu:

– 1kg cà rốt

– 2 lít nước dùng gà

– 75ml mật ong

– 125ml kem tươi

– Một nhúm muối.

Thực hiện:

Bước 1:

Cho cà rốt và nước dùng vào nồi ninh nhừ khoảng 45 phút đến 1 tiếng.

Súp cà rốt ngon bổ cho bé yêu

Bước 2:

Khi cà rốt đã chín mềm, bạn múc ra bát để nguội bớt. Sau đó, cho cà rốt và nước hầm vào máy xay nhuyễn.

Súp cà rốt ngon bổ cho bé yêu

Bước 3:

Thêm mật ong, kem tươi và muối vào máy xay lại lần nữa cho thật nhuyễn mịn.

Súp cà rốt ngon bổ cho bé yêu

Đổ súp ra bát và thưởng thức.

Súp cà rốt ngon bổ cho bé yêu

Ăn cà rốt thường xuyên giúp bạn có một làn da tươi trẻ và đôi mắt khỏe mạnh. Súp cà rốt tuy đơn giản nhưng lại khá lạ miệng vì nó ngọt nhẹ và có chút béo ngậy. Bạn có thể cho các bé nhà mình ăn món súp này 1-2 lần một tuần để thay đổi khẩu vị và bổ sung thêm lượng vitamin A cần thiết.

Bữa ăn gia đình – Yếu tố để gia đình hạnh phúc

Suckhoedoisong.vn – Người ta thường đánh giá một gia đình hạnh phúc thông qua sự ấm cúng hay nguội lạnh của căn bếp.

Trong thời buổi cơ chế thị trường, người lớn thì tất bật với công việc bận rộn, trẻ em thì lo lắng với sách vở học hành. Thường thì gia đình chỉ gặp mặt quây quần vào bữa cơm chiều tối và những bữa ăn trong ngày nghỉ cuối tuần. Bữa ăn gia đình ấm cúng sẽ xua đi những mệt mỏi, áp lực, làm tăng thêm tình yêu thương, sự gắn bó và vững chắc trong cuộc sống hôn nhân.

Bữa ăn ở nhà luôn đủ dinh dưỡng và ngon miệng, có đủ 4 nhóm thực phẩm gồm nhóm lương thực (cơm hoặc mì, ngô, khoai, bún phở…); nhóm chất đạm (thịt hoặc cá, trứng, tôm, lạc, đậu phụ…); nhóm chất béo (dầu hoặc mỡ, bơ, vừng…); nhóm vitamin và muối khoáng (rau xanh và quả chín). Khi đi chợ, các bà, các mẹ nên sử dụng nhiều loại thực phẩm phối hợp để chúng bổ sung và hỗ trợ cho nhau vì thực tế không có loại thức ăn nào có đầy đủ các chất dinh dưỡng và ở tỉ lệ cân đối. Món ăn được chế biến cần hợp khẩu vị, hấp dẫn, ngon lành và thường xuyên thay đổi. Khi nấu xong nên ăn ngay như vậy vừa ngon miệng lại không bị hao hụt chất dinh dưỡng.

 

Bữa cơm hàng ngày là yếu tố gắn kết các thành viên với nhau.

Bữa cơm hàng ngày là yếu tố gắn kết các thành viên với nhau.

 

Thực phẩm mua về trong gia đình luôn phải đảm bảo lành, sạch, không độc, không phải là nguồn gây bệnh để giúp cho các chức phận của cơ thể hoạt động tốt. Do vậy, ngay từ khâu mua thực phẩm người nội trợ cần lựa chọn những thực phẩm tươi, sạch không mua và sử dụng những thực phẩm có nghi ngờ không an toàn. Dùng nước sạch rửa kỹ thực phẩm trước khi chế biến, hoa quả cần rửa sạch và gọt vỏ trước khi ăn.

Bữa ăn trong gia đình luôn được tổ chức một cách tiết kiệm, kinh tế nhất. Người nấu ăn cần biết chọn thực phẩm sạch, giàu dinh dưỡng nhưng giá cả phù hợp với đều kiện kinh tế gia đình. Không nhất thiết các thức ăn đắt tiền mới là tốt, nhiều thức ăn rẻ tiền nhưng biết cách lựa chọn, chế biến lại có giá trị dinh dưỡng cao. Thí dụ cá diếc, cá dầu nhỏ giá thành chỉ bằng khoảng 1/4 giá của thịt nạc hoặc cá chép to nhưng thành phần chất đạm cũng gần tương đương (100g cá diếc có 17,7g đạm; 100g cá chép có 16,0g đạm; 100g thịt lợn nạc có 19g đạm) mà cá nhỏ kho nhừ ăn cả xương còn là nguồn canxi hữu cơ rất tốt giúp phòng chống bệnh còi xương ở trẻ nhỏ và loãng xương ở người lớn.

Bữa cơm gia đình diễn ra trong không khí đầm ấm, hạnh phúc, quan tâm săn sóc lẫn nhau sẽ kích thích các tuyến tiêu hóa hoạt động giúp mọi người ăn ngon miệng và giúp cho việc tiêu hóa, hấp thu thức ăn được tốt hơn. Cần hết sức tránh mắng mỏ, nhiếc móc con cái trong bữa ăn, tránh những lời nói, thái độ bực tức của người lớn thể hiện khi vào bữa ăn. “Trời đánh còn tránh bữa ăn” là điều mà các cụ ta răn dạy từ lâu đời nay vẫn luôn là đúng xin mọi người đừng bỏ qua.

Mọi người nên dành thời gian và có thói quen tổ chức bữa ăn gia đình đủ chất, ngon miệng và an toàn. Qua bữa ăn gia đình sẽ giảm bớt được các sức ép (stress) do công việc căng thẳng trong ngày gây nên, đồng thời sẽ tạo điều kiện để các thành viên trong gia đình gần gũi và quan tâm đến nhau hơn.

Hiện nay, ở các thành phố trên thị trường có nhiều loại thức ăn chế biến sẵn hay ăn liền bày bán trong các cửa hàng hay quán ăn trên vỉa hè rất thuận tiện cho việc ăn nhanh và ăn cá nhân. Hầu hết các loại thức ăn này đều chế biến hấp dẫn để kích thích người mua và sử dụng nhưng giá trị dinh dưỡng của chúng thường đơn điệu, nghèo nàn và có thể không đảm bảo vệ sinh. Vì vậy các gia đình nên duy trì bữa ăn tập trung gia đình với các món ăn ngon miệng, truyền thống dân tộc. Người phụ nữ trong gia đình cần có hiểu biết về nhu cầu dinh dưỡng, giá trị dinh dưỡng của từng lọai thức ăn và biết cách tổ chức tốt bữa ăn đủ dinh dưỡng, ngon, lành, tình cảm và tiết kiệm.

TS. Hoàng Kim Thanh

Nguồn SKĐS

Lý do nên cân nhắc khi ăn thịt đỏ

Suckhoedoisong.vn – Thịt đỏ bao gồm các loại thịt như thịt lợn, thịt bò thịt cừu, cừu, thịt bê, thịt vịt. Cơ thể chúng ta được cấu tạo để sẵn sàng “xử lý” các loại thịt, nhưng rất tiếc, các loại thịt chúng ta ăn hôm nay khác rất nhiều với các loại thịt mà ông cha ta đã từng ăn.

Những loại động vật được tiêm homron và kháng sinh có hại có thể là lý do khiến chúng ta phải cân nhắc khi sử dụng thịt của chúng. Dưới đây là những lý do khiến bạn nên cân nhắc khi ăn thịt đỏ:

Thịt đỏ nói chung chứa nhiều chất béo bão hòa và nó làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Thịt đỏ chứa acetat và những chất này khi được sử dụng sẽ làm gia tăng hàm lượng cholesterol trong cơ thể. Vì vậy, thịt đỏ không tốt cho sức khỏe.

Thịt đỏ chứa các hợp chất ung thư, nó giàu hàm lượng protein và cần nhiều thời gian hơn để tiêu hóa. Điều này cho phép các hợp chất chống ung thư gây tổn thương thành ruột và đây là bước đầu dẫn tới ung thư đại tràng.

thịt đỏ

Thịt đỏ chứa nhiều chất béo, calo và các chất béo bão hòa, nó dẫn tới tăng cân và béo bụng.

Thịt đỏ làm tăng nguy cơ phát triển tiểu đường týp 2 do chứa hàm lượng cao chất béo bão hòa. Nó cũng làm tăng sức đề kháng insulin của cơ thể và khiến cơ thể khó điều chỉnh đường huyết.

Vì cần nhiều thời gian để tiêu hóa thịt đỏ trong đường tiêu hóa do hàm lượng protein của nó cao, thịt đỏ bị phân hủy trong đường tiêu hóa. Điều này dẫn tới sự sản sinh các độc tố gây hại và các amin tiêu diệt các vi khuẩn lành mạnh trong đường ruột. Nó dẫn tới những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như hội chứng viêm ruột, táo bón, co rút, trĩ và nhiều vấn đề khác

Tiêm hormon, được tiêm vào cơ thể để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và sinh sản có thể gây ra nhiều rối loạn trong cơ thể. Nó dẫn tới mất cân bằng hormon và một số tình trạng sức khỏe như dậy thì sớm ở trẻ.

Thịt đỏ chứa nhiều sắt và có liên quan tới bệnh Parkinson và Alzheimer. Dư thừa sắt có thể còn thúc đẩy phản ứng của gốc tự do gây hại và stress oxy hóa.

Hệ miễn dịch bảo vệ cơ thể chống lại tất cả các bệnh và nhiễm trùng. Vì protein động vật tương tự với của người, dần dần, cơ thể không thể nhận biết giữa protein của cơ thể và của động vật. Một số bệnh tự miễn là viêm khớp dạng thấp, lupus và xơ cứng rải rác.

Thịt đỏ chứa purine, dẫn tới hàm lượng cao axit uric trong cơ thể. Điều này làm tăng nguy cơ bệnh gút và viêm khớp. Chúng cũng có thể dẫn tới viêm khớp thoái hóa và các rối loạn mô mềm khác.

BS Thu Vân

(Theo Boldsky)

Nguồn SKĐS

Nên ăn gì trong 3 tháng cuối của thai kỳ?

Suckhoedoisong.vn – 3 tháng cuối của thai kỳ là thời kỳ thai nhi phát triển nhanh chóng nhất.

Vì vậy, để đảm bảo phát triển tốt cho em bé, các bà mẹ mang thai phải duy trì một chế độ ăn uống giàu dinh dưỡng để hỗ trợ sự tăng trưởng của thai nhi. Chế độ ăn uống cần có đủ năng lượng, khoáng chất, chất xơ và các vitamin cần thiết. Phụ nữ mang thai có thể có được các chất dinh dưỡng này từ các loại thực phẩm sau đây.

Ở giai đoạn này, thể tích máu tăng lên và do đó nhu cầu sắt cũng tăng lên cho cơ thể. Thiếu sắt có thể gây thiếu máu và có thể gây ra mệt mỏi, chóng mặt hoặc thậm chí xuất huyết khi sinh. Em bé cũng cần sắt để tăng trưởng thích hợp. Phụ nữ mang thai thiếu chất bổ sung sắt có thể sẽ sinh con sớm và trẻ sinh ra có trọng lượng thấp. Thịt, gia cầm, các sản phẩm từ sữa, hạt, đậu và gạo nguyên cám rất giàu chất sắt và nên thiết kế là một phần của chế độ ăn của các bà bầu tại thời điểm này. Cơ thể sẽ hấp thụ sắt nhiều hơn với sự hiện diện của vitamin C, do đó tốt hơn là kết hợp cả hai nguồn vừa cung cấp sắt vừa cung cấp vitamin C.

Nên ăn gì trong 3 tháng cuối của thai kỳ?Trái cây là thực phẩm không thể thiếu của thai phụ để bổ sung các vitamin, hỗ trợ quá trình trao đổi chất trong cơ thể mẹ và bé.

Protein chịu trách nhiệm xây dựng và cấu tạo cơ bản cho các cơ quan trong cơ thể. Ở giai đoạn này, khi đứa trẻ đang phát triển với tốc độ nhanh và cơ thể mẹ đang phải thích nghi với sự thay đổi này, cơ thể mẹ cần cung cấp đủ lượng protein cần thiết để đáp ứng nhu cầu. Dùng nhiều protein giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường liên quan đến việc mang thai và ổn định mức đường trong máu. Lượng thức ăn hàng ngày cần thiết cung cấp protein ở giai đoạn này là khoảng 70 gram mỗi ngày. Thịt, các sản phẩm từ sữa, cá, đậu, đậu hũ và đậu có chứa nhiều protein.

Theo nghiên cứu mới nhất, DHA (docosahexaenoic acid) rất cần thiết cho sự phát triển của não bộ của thai nhi. Trong giai đoạn này, não của em bé phát triển và điều quan trọng là phải có đủ lượng DHA trong chế độ ăn uống của mẹ trong 3 tháng cuối của thai kỳ. Khuyến cáo khoảng 200mg DHA cho mẹ mỗi ngày. Các thực phẩm cơ bản như sữa, nước trái cây và trứng cần được bổ sung để cung cấp đủ DHA. Cá, đặc biệt là cá hồi cũng là một nguồn rất tốt của DHA và có thể trao đổi với bác sĩ về việc dùng bổ sung DHA.

Axit folic chắc chắn là một trong những chất dinh dưỡng quan trọng nhất trong suốt thời kỳ mang thai. Ăn uống đầy đủ axit folic sẽ ngăn ngừa được rất nhiều biến chứng cho bà bầu. Axit folic được tìm thấy phong phú trong rau lá xanh như cải bó xôi. Trái cây có múi, bánh mì, men bia và đậu cũng chứa rất nhiều axit folic. Cần lưu ý rằng hầu hết axit folic bị phá hủy trong quá trình nấu chín, vì vậy nên cố gắng hạn chế thời gian nấu kéo dài cho rau. Hầu hết các chất bổ sung được kê toa trong thai kỳ đều có chứa axit folic.

Cần khoảng 800mg canxi mỗi ngày cho mẹ trong 3 tháng cuối của thai kỳ. Đây là thời gian xương của em bé bắt đầu khỏe mạnh và canxi được dự trữ trong xương. Nếu thiếu canxi, trẻ sẽ lấy canxi từ xương của mẹ. Canxi cũng cần thiết cho nguồn sữa tốt sau này. Sữa, sữa chua, phô mai, đậu phụ, cá hồi và các loại hạt là những nguồn cung cấp canxi tốt.

Magiê là một trong những khoáng chất cần thiết. Magiê giúp cơ thể hấp thụ canxi và sửa chữa các mô bị hỏng. Magiê là cần thiết cho thư giãn cơ, làm giảm nguy cơ sinh non và làm dịu chứng co thắt. Khuyến cáo 350- 400mg magiê mỗi ngày trong thời kỳ mang thai. Các nguồn magiê tốt nhất là các loại hạt như hạt hạnh nhân và hạt bí đỏ, các loại đậu đặc biệt là đậu đen, yến mạch, bơ và atisô.

Cơ thể cần các vitamin để hỗ trợ cho quá trình trao đổi chất trong cơ thể mẹ và bé. Những vitamin nêu trên rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ, đặc biệt là sự phát triển khỏe mạnh của cơ. Hầu hết các trái cây và rau quả có chứa các vitamin này mà thai phụ cần phải đưa vào chế độ ăn uống trong 3 tháng cuối của thai kỳ và cũng ngăn ngừa táo bón là khá phổ biến ở giai đoạn này. Trái cây có múi, chuối, cà rốt, đậu quả thận, ngũ cốc nguyên hạt và hạt hạnh nhân giàu các vitamin này.

Khi quá trình mang thai diễn ra, việc ăn các bữa ăn lớn đôi lúc trở nên khó khăn hơn. Nếu bà bầu cảm thấy đói giữa các bữa ăn và muốn có một chút ăn nhẹ, hãy thử một số hạt thay vì dùng bánh bích quy hoặc sôcôla. Một số các loại hạt như hạnh nhân, quả hồ trăn hoặc quả óc chó là một lựa chọn tuyệt vời cho bà mẹ mang thai.

BS. Thanh Hoài

Nguồn SKĐS

Bị viêm loét dạ dày, tá tràng nên ăn gì và kiêng ăn gì?

Suckhoedoisong.vn – Viêm loét dạ dày – hành tá tràng nếu không được theo dõi và điều trị kịp thời có thể dẫn đến hẹp môn vị và một vài biến chứng nguy hiểm khác. Do vậy, người bị viêm loét dạ dày – hành tá tràng cần phải tuân thủ một số nguyên tắc trong ăn uống dưới đây.

Những thực phẩm cần tránh

Tránh các chất kích thích làm tăng bài tiết dịch vị: kiêng các loại rượu, bia, thuốc lá, cà phê, chè đặc. Kiêng ăn quá nhiều gia vị chua, cay, nóng như giấm, chanh, ớt, tiêu, gừng, riềng; các loại thịt quay, thịt muối, nước luộc thịt, các món sốt, xào có nhiều gia vị.

 

Tránh các loại thức ăn gây cọ xát làm tổn thương niêm mạc: rau già nhiều xơ (mướp, rau bí đỏ, đậu quả, rau muống, bắp cải, măng khô…). Các thức ăn như: xương băm nhỏ, sụn, tôm cua, cổ cánh, chân gà, vịt, cá nấu, cá rán ăn cả đầu… Nên ăn các thức ăn có tác dụng bọc, hút, thấm niêm mạc như cơm nếp, bánh chưng, bánh mỳ, bánh quy, bánh xốp…

Tránh ăn quá nóng, quá lạnh, tránh quá đói, quá no, tránh ăn quá đặc, quá loãng: vì thức ăn nóng quá làm niêm mạc dạ dày sung huyết, lạnh quá hoặc đói quá (dạ dày rỗng) làm dạ dày co bóp mạnh hơn gây đau, có khi gây chảy máu. Nếu ăn quá no làm dạ dày căng to, co bóp yếu ảnh hưởng đến quá trình nhào trộn thức ăn. Nếu ăn đặc quá thì dịch vị rất khó thấm vào giữa khối thức ăn, nhưng nếu ăn lỏng và nhiều nước quá thì dịch vị sẽ bị pha loãng làm giảm khả năng tiêu hóa.

Cần tránh ăn những thức ăn khó tiêu: bữa ăn có nhiều chất đạm, dầu mỡ (thịt, đậu, lạc, trứng…) sẽ lâu tiêu hơn những thức ăn khác. Khi ăn cần ăn chậm nhai kỹ, tránh ăn vội nhai dối, tránh vừa ăn vừa tập trung những việc khác như tranh thủ đọc sách, báo khi ăn… vì nếu ăn chậm, nhai kỹ bộ răng sẽ giúp cắt, xé, nghiền thức ăn ra rất nhỏ, kết hợp với dịch nước bọt giúp khi vào dạ dày thức ăn đã trở nên nhỏ mịn và đồng nhất hơn, khả năng tiêu hóa dễ dàng hơn.

 

Người bị viêm loét dạ dày – tá tràng nên ăn các thức ăn có tác dụng bọc, hút, thấm niêm mạc như bánh mỳ

Ăn thế nào mới đúng?

Nên ăn cơm, cháo, bánh mỳ, bánh quy, cơm nếp, khoai tây, khoai sọ luộc nhừ; rau lá non các loại; thịt cá nạc bỏ xương; sữa bò tươi, sữa hộp các loại; quả chín, quả ngọt, bánh mứt kẹo, mật ong; nước uống không rượu, nước lọc.

2 mẫu thực đơn cụ thể

Thực đơn 1

Bữa sáng: trứng gà 1 quả đánh kem, bánh quy 50g.

Bữa trưa: cơm (gạo tẻ 200g), giá xào (giá đỗ 100g, thịt lợn 30g, dầu hoặc mỡ 5g).

Bữa phụ: bánh quy 50g (hoặc biscot), hoặc chè đỗ xanh, đỗ đen.

Bữa tối: cơm (gạo tẻ 200g), xôi lạc hoặc cơm nếp lạc (gạo nếp 200g, lạc hạt 30g), thịt lợn rim 30g.

Thực đơn 2

Bữa sáng: trứng gà hấp 1 quả, cháo nếp 1 bát 200ml.

Bữa trưa: cơm (gạo tẻ 200g), rau bắp cải luộc 100g, thịt lợn viên hấp 50g.

Bữa phụ: bánh quy 50g hoặc chè bột sắn.

Bữa tối: cơm (gạo tẻ 200g), đậu xào (đậu quả 100g, thịt 30g, dầu 5g, hành mùi).

Giá trị năng lượng từ 2.100 – 2.400kcal mỗi thực đơn (kcal từ đạm: 12,5% tương đương 60 – 65g; từ chất béo 13,8% (30 – 45g); từ bột đường 73,7% (330 – 380g).

PGS.TS. Trần Đình Toán

Nguồn SKĐS

Mách bạn cách làm bánh cuốn tôm ngon khó cưỡng

Nguyên liệu:

30g bột gạo tẻ

10g tinh bột mì (wheat starch)

30g bột khoai tây

10g bột năng

10g tinh bột ngô

10g dầu ăn

200g nước

8 con tôm

30g cần tây thái nhỏ

1 cây hành thái nhỏ

Một ít muối

15g rượu gạo

2ml nước cốt gừng

2g đường

1g bột năng

Một ít hạt tiêu

1ml dầu mè

Bước 1

Cho bột gạo tẻ, tinh bột mì, bột khoai tây, bột năng, bột ngô, dầu ăn, nước vào tô trộn đều rồi để yên 30 phút cho bột ngấm nước. Tôm bóc bỏ vỏ, loại bỏ chỉ đen.

Bước 2

Cho bột gạo tẻ, tinh bột mì, bột khoai tây, bột năng, bột ngô, dầu ăn, nước vào tô trộn đều rồi để yên 30 phút cho bột ngấm nước. Tôm bóc bỏ vỏ, loại bỏ chỉ đen.

Bước 3

Đổ nước vào nồi hấp đun sôi, cho khuôn hấp vào nồi. Múc một muỗng hỗn hợp bột đã hòa ở trên đổ vào khuôn rồi láng đều thành lớp mỏng. Đặt tôm lên trên, đóng nắp nồi hấp. Khi bánh chín chuyển màu trong suốt thì lấy khuôn ra và dùng thìa cuộn bánh cuốn lại rồi cho ra đĩa.

Bước 4

Pha nước chấm: Cho vào bát một ít nước tương, đường, rượu gạo, nước cốt gừng, dầu mè vào trộn đều. Khi ăn chan phần nước chấm lên trên bánh cuốn.

Bánh cuốn là món ăn quen thuộc với nhiều người. Nhưng để có thể tự làm bánh ngon ở nhà thì không phải ai cũng biết cách. Với công thức trên đây, bánh cuốn sẽ có lớp vỏ dai và mềm mướt, đạm đà vị ngọt của bột gạo, của nhân tôm và thơm mùi cần tây. Vì vậy, bạn hãy thử ngay cách làm bánh cuốn tôm này nhé.

Mách bạn cách làm bánh cuốn tôm ngon khó cưỡng - Ảnh 5.

Chúc bạn ngon miệng với món bánh cuốn tôm này nhé!

(Nguồn: meishij.net)

Hường Nguyễn / Theo Helino

Nguồn a f a m i l y .vn

Những người không nên ăn ớt

Ớt có nhiều công dụng nhưng không phải ai cũng dùng ớt được. Vậy những ai không nên ăn ớt.

Ớt là loại gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn. Ớt có tác dụng cải thiện hệ tiêu hóa, tăng cường sức đề kháng, ngăn ngừa ung thư…

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, những người sau đây không nên ăn ớt:

– Người có bệnh viêm loét dạ dày mãn tính, người bị bệnh viêm thực quản: Ớt có vị cay có thể làm bỏng da, do vậy khi ăn ớt cay sẽ có hại cho niêm mạc dạ dày, đặc biệt đối với những người đang bị loét dạ dày. Hơn nữa, ăn quá cay cũng ảnh hưởng đến men tiêu hóa của dạ dày, gây khó tiêu, ăn cay quá có nguy cơ loét dạ dày.

– Người mắc bệnh tim, não, cao huyết áp, viêm khí quản mãn tính, bệnh phổi: Trong ớt chứa các nhân tố khiến lượng máu trong quá trình tuần hoàn tăng cao, tim đập nhanh, nếu xảy ra trong thời gian dài có thể dẫn đến suy tim, thậm chí là tử vong.

– Người bị bệnh về mật: Do chất kích thích trong ớt làm tăng dịch vị trong dạ dày. Dịch vị tiết ra nhiều khiến túi gan co lại làm cho dịch gan tiết ra khó khăn hơn từ đó dẫn đến viêm túi gan và tuyến tuỵ.

Những người không nên ăn ớt

Ảnh minh hoạ.

– Những người bị bệnh trĩ: Các chất kích thích trong ớt gây tích nước trong tĩnh mạch có thể làm bệnh nặng thêm, thậm chí còn hình thành mủ trong hậu môn.

– Những bệnh nhân đau mắt đỏ: Nếu bệnh nhân đau mắt đỏ ăn ớt thì ớt sẽ làm bốc hoả khiến bệnh thêm nặng.

– Những người mắc bệnh thận: Chất kích thích trong ớt sẽ làm giảm chức năng thận, thậm chí gây suy thận.

– Người mắc bệnh về da: Ăn ớt trong khi viêm da, mắc các bệnh về da thì sẽ nặng hơn và khó khỏi.

– Những người thể trạng kém: Nếu ăn cay không những khiến các triệu trứng trên nặng hơn mà còn dẫn đến xuất huyết, dị ứng, nếu nghiêm trọng còn gây viêm nhiễm.

– Phụ nữ đang mang thai: Nếu phụ nữ ăn ớt trong gia đoạn này, nó sẽ gây viêm loét miệng, lưỡi, táo bón và ảnh hưởng đến cả con.

– Phụ nữ đang cho con bú: Ăn ớt cay sẽ ảnh hưởng đến trẻ qua sữa, cơ thể mẹ sẽ bị nóng, con có thể khó ngủ, hay quấy khóc.

– Những người đang điều trị bằng thuốc đông y: Những người này nên kiêng ăn ớt, bởi nếu dùng ớt sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị.

Lợi và hại của một số thực phẩm bạn tiêu thụ hàng ngày

Khi đứng trước sự lựa chọn về một chế độ ăn uống đa dạng, chúng ta nhất định phải phân biệt rõ mặt lợi và hại của một số thực phẩm.

Có hiểu rõ lợi và hại của một số thực phẩm thì bạn mới có thể quyết định sáng suốt khi lựa tiêu thụ chúng hàng ngày.

1. Sôcôla

Lợi: Do chứa một lượng lớn chất chống oxy hóa và hợp chất flavanoid như catechin và anthocyanins cao nên sôcôla có tác dụng phòng và bảo vệ tim mạch rất tốt. Nó còn có thể giúp giãn mạch vành, cải thiện chức năng mạch vành, giảm độ bám dính tiểu cầu. Ngoài ra, sôcôlacòn giúp hạ huyết áp.

Hại: Sôcôla là một món giàu chất béo, giàu calo và nhiều đường. Trong thực phẩm này còn chứa cả hợp chất hoạt tính dược lý (methylxanthine, các amin sinh vật và axit béo) và caffeine nên nó có thể có tác động như thuốc phiện, dễ gây nghiện.

Lợi và hại của một số thực phẩm bạn tiêu thụ hàng ngày

Ảnh minh hoạ.

2. Thịt đỏ

Lợi: Trong thịt đỏ chứa nhiều khoáng chất, protein và vitamin bao gồm sắt, kẽm, vitamin B, vitamin D… nên có tác dụng tăng cường sức khỏe rất tốt. 

Hại: Hàm lượng axit béo bão hòa trong thịt đỏ rất cao nên dễ kéo theo các bệnh tim mạch. Hơn nữa nó còn là nguyên nhân làm tăng nguy cơ ung thư đại tràng và viêm khớp. Những người thường xuyên ăn thịt đỏ có thể gặp hiện tượng insulin trong máu quá nhiều hoặc quá ít. 

Vì thế các chuyên gia sức khỏe khuyến cáo mọi người khi ăn thịt đỏ, nhất định phải chú ý xử lý ở nhiệt độ cao, như vậy mới có thể giết hết vi khuẩn và các hóa chất độc hại trong thịt, ngăn chặn nguy cơ ung thư.

Lợi và hại của một số thực phẩm bạn tiêu thụ hàng ngày

Ảnh minh hoạ.

3. Các loại hạt

Lợi: Các loại hạt thường giàu vitamin và khoáng chất như vitamin B, E, selen, canxi, magiê, đồng, phốt pho và sắt… nên giúp củng cố sức khỏe. Ngoài ra, chúng còn giàu chất xơ, axit béo không bão hòa và các hóa chất thực vật, có thể giảm nồng độ cholesterol và nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Hại: Các loại hạt thuộc thực phẩm chất béo cao, calo cao, những người ăn thường xuyên dễ bị béo phì. Oxalat trong đó là một trong những nhân tố quan trọng gây sỏi thận. Ngoài ra, trong các loại hạt còn chưa chất gây ung thư như aflatoxin, nên các chuyên gia khuyến cáo bạn chỉ nên ăn với lượng vừa phải.

Lợi và hại của một số thực phẩm bạn tiêu thụ hàng ngày

Ảnh minh hoạ.

4. Cà phê

Lợi: Cà phê là một trong những nguồn chất chống oxy hóa quan trọng. Theo nghiên cứu, cà phê có thể giảm hiệu quả nguy cơ mắc bệnh Parkinson, xơ gan, sỏi mật, sỏi thận và bệnh gút. Hơn nữa cà phê còn giúp thức tỉnh não bộ, về điểm này thì ai cũng biết.

Hại: Nghiên cứu phát hiện, uống cà phê dễ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tim mạch vành. Chất caffein trong cà phê khiến huyết áp tăng cao, nên những người huyết áp cao nên hạn chế uống tránh để bệnh nặng thêm. Ngoài ra, cà phê còn ảnh hưởng tới chất lượng giấc ngủ, do tác dụng của caffein, khiến tinh thần rơi vào trạng thái hưng phấn cực độ mà không thể ngủ ngon.

Lợi và hại của một số thực phẩm bạn tiêu thụ hàng ngày

Ảnh minh hoạ.

5. Trứng

Lợi: Giàu vitamin và khoáng chất. Trong đó vitamin gồm có A, D, E, B1, B2, B6 và B12 trừ vitamin C. Khoáng chất gồm có sắt, kẽm, canxi, iốt và selen. Trứng là một loại thực phẩm dinh dưỡng cao, giàu đạm. Hơn nữa, lutein và zeaxanthin trong trứng có thể giảm hiệu quả nguy cơ mắc các bệnh về mắt như đục thủy tinh thể. Ngoài ra, còn giúp cải thiện trí nhớ và khả nặng nhận thức, là thực phẩm kiện não.

Hại: Hàm lượng cholesterol trong trứng cao, mỗi một quả chứa tới 200mg. Cholesterol trong chế độ ăn sẽ không tự động chuyển hóa thành cholesterol trong máu, chất béo bão hòa và chất béo không bão hòa trong trứng có thể làm tăng lượng cholesterol trong máu. Ngoài ra, ăn quá nhiều trứng còn dẫn tới bệnh tim mạch và dị ứng.

Lợi và hại của một số thực phẩm bạn tiêu thụ hàng ngày

Ảnh minh hoạ.

6. Rượu vang đỏ

Lợi: Giàu chất polyphenol, theo nghiên cứu, rượu vang đỏ có thể giảm nguy cơ tim mạch, tăng cholesterol và đông máu, phòng ngừa xơ vữa động mạch. Nghiên cứu của Pháp phát hiện, uống vừa đủ rượu vang đỏ có thể giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư và huyết áp cao.

Hại: Uống quá nhiều khổng chỉ gây đau đầu, ảnh hưởng tới chất lượng giấc ngủ, nghiêm trọng hơn còn gây ngộ độc rượu, đe dọa sức khỏe và tính mạng.

Lợi và hại của một số thực phẩm bạn tiêu thụ hàng ngày

7. Bia

Lợi: Giàu vitamin, khoáng chất và flavonoid, có tác dụng chống oxy hóa mạnh. Nhiều nghiên cứu chứng minh, tỷ lệ mắc bệnh tim mạch vành liên quan tới thói quen uống bia. nếu uống bia vừa phải có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành. Ngoài ra, uống bia còn có thể giảm tỷ lệ bị sỏi thận và ngăn chặn bức xạ.

Hại: Những người uống bia thường xuyên dễ có “bụng bia”, còn bị chứng ợ nóng, tăng huyết áp, gút… nghiêm trọng hơn còn có thể bị ngộ độc rượu. Ngộ độc rượu có thể khiến cơ bắp co lại, hoạt động tứ chi không phối hợp, phản ứng chậm.

Bắp rang bơ hại phổi?

Thông tin bắp rang bơ được trộn hoá chất diacetyl tạo mùi thơm giống mùi bơ khiến người tiêu dùng lo lắng.

Theo PGS Nguyễn Hữu Đức – Khoa Dược (ĐH Y Dược TP HCM), diacetyl là hóa chất tạo mùi thơm, nhưng có thể tác động lên phế quản gây hiện tượng co thắt phế quản, gây hen, dùng lâu dài chất này có thể ảnh hưởng đến phổi, thận và gây rối loạn chuyển hóa protein.

“Độc” từ mùi thơm

Trao đổi với PV, PGS Nguyễn Hữu Đức cho hay, khi sản xuất bắp rang bơ người ta cho diacetyl, thành phần hóa học tạo nên mùi bơ để tiết kiệm chi phí do nó có mùi thơm rất giống với mùi bơ thật. Diacetyl là hóa chất tạo mùi thơm, nhưng có thể tác động lên phế quản gây hiện tượng co thắt phế quản, gây hen, dùng lâu dài chất này có thể ảnh hưởng đến phổi, thận và gây rối loạn chuyển hóa protein.

Chia sẻ về điều này, PGS.TS Nguyễn Hữu Đức cho hay, từ năm 2007, dư luận Mỹ đã đòi cấm dùng diacetyl làm chất tạo mùi bơ trong thực phẩm. Trong một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu sức khỏe và an toàn nghề nghiệp Hoa Kỳ tập trung vào thành phần tạo mùi bơ bao gồm diacetyl, người ta đã phát hiện ra diacetyl chính là nguyên nhân gây nên bệnh liên quan đường hô hấp là chứng viêm tiểu phế quản co khít. Diacetyl gây viêm và xơ hóa các tiểu phế quản của phổi khiến các đường thở này bị chít hẹp một phần hay toàn phần. Đây là một chứng bệnh gây mất sức và hiếm gặp được phát hiện ở công nhân làm việc tại các nhà máy sản xuất thực phẩm dùng phụ gia diacetyl tạo mùi bơ…

Bắp rang bơ hại phổi?

Ảnh minh hoạ.

Người bị viêm tiểu phế quản do diacetyl sẽ khó thở, thở khò khè, ho khan dữ dội, nếu quá nặng sẽ suy hô hấp và tử vong. Bệnh khó trị và không hồi phục, nếu nặng chỉ có thể chữa bằng cách ghép phổi. Mới đây, một nghiên cứu cũng chỉ ra chất diacetyl có khả năng ảnh hưởng đến protein trong não khiến chúng không phân giải được và sẽ dẫn đến bệnh Alzheimer – chứng mất trí nhớ.

PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh – Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm (ĐH Bách khoa Hà Nội) cũng cho biết, diacetyl là chất lỏng dễ bay hơi thường tìm thấy ở trong rượu, bia và có tính độc hại. Khi lên men không tốt chất này sẽ tự sinh ra. Uống chất này vào sẽ gây nhức đầu, lâu dần ảnh hưởng hệ thần kinh. Còn chất này có trong bắp rang bơ gây hại ra sao thì nước ta chưa có nghiên cứu nào.

Nói về việc nhận diện chất diacetyl, PGS.TS Nguyễn Hữu Đức cho rằng rất khó nhận diện cảm quan hay mùi, vị vì nó có mùi thơm nồng nàn giống với bơ thật. Để biết được chất này phải được lấy mẫu rồi đưa vào các phòng thí nghiệm hiện đại phân tích mới xác định được.

 Gây biếng ăn cho trẻ

PGS.TS Nguyễn Hữu Đức khuyến cáo, hiện nay bắp rang bơ thường được sử dụng để ăn vặt, đây là món mà giới trẻ rất thích vì mùi vị thơm ngon. Bình thường cơ thể chúng ta cần hàm lượng chất xơ và bỏng ngô đáp ứng được điều đó. Tuy nhiên, trong bắp rang bơ hiện nay có chứa nhiều các chất phụ gia, bảo quản như chất tạo màu, đường hóa học, chất béo… không tốt đến sức khỏe con người, đặc biệt là trẻ nhỏ. Quá trình chế biến, thành phần dinh dưỡng có giá trị cho sức khỏe sẽ bị hủy đi, lượng đường, muối, chất béo tăng lên làm ảnh hưởng đến sức khoẻ. Tốt nhất là mọi người nên sử dụng bắp tươi để luộc, nướng hoặc bắp hạt xay dùng nấu cháo, xôi bắp để có giá trị dinh dưỡng mà không sợ độc hại.

“Nhiều cha mẹ còn lạm dụng món bắp rang bơ cho con ăn trước bữa ăn. Điều này là không nên vì về mặt dinh dưỡng hoàn toàn không tốt. Trẻ có thể bị phá vỡ những thói quen ăn uống tốt, dễ sinh ra biếng ăn. Cha mẹ cần bổ sung thêm các loại thức ăn khác đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ”, PGS.TS Hữu Đức nhấn mạnh.

Theo PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, ngô là một loại thực phẩm lành mạnh, nhiều dưỡng chất, ít chất béo và nhiều chất xơ rất tốt cho sức khỏe. Nó được khuyên nên chọn cho bữa phụ nhưng đó phải là loại bỏng ngô nguyên chất, không thêm bất cứ gia vị nào. Bắp rang bơ lại không hề có lợi cho sức khỏe vì chúng chứa nhiều chất béo, bao gồm cả những chất béo bão hoà không có lợi do được rang nở lớn với bơ và dầu chiên. 

Khi ăn dễ gây đầy bụng, khó tiêu và dẫn tới cảm giác chán ăn ngay sau đó. Hơn nữa, cũng có thể khi sản xuất họ dùng bơ ôi cho vào. Chất béo của bơ dễ bị ôxi hóa thành những chất độc peroxit, axeton… gây hại cho cơ thể.